Archives Tháng Mười Hai 2023

P/B trong chứng khoán có ý nghĩa như nào?

P/B trong chứng khoán có ý nghĩa như nào? Hãy cùng chungkhoan.Group cùng tìm hiểu về chỉ số P/B trong chứng khoán.

P/B (Price-to-Book) là một chỉ số đo lường giá trị của một cổ phiếu. Nó được tính bằng cách chia giá cổ phiếu hiện tại cho giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu của công ty đó. Giá trị sổ sách là giá trị tài sản ròng của công ty, bao gồm tài sản và nợ. Ví dụ, nếu giá cổ phiếu của công ty XYZ là $100 và giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu là $50, thì P/B của công ty XYZ sẽ là 2 ($100 / $50). Điều này có nghĩa là giá cổ phiếu của công ty XYZ đang được giao dịch với mức giá cao hơn so với giá trị sổ sách của công ty. P/B thường được sử dụng để so sánh giá trị của một cổ phiếu với các công ty khác trong cùng ngành hoặc với trung bình của toàn thị trường.

Chỉ số P/B của cổ phiếu MBB (Ngân hàng quân đội)

Mua cổ phiếu của một công ty cần chú ý những gì

Trước khi quyết định dùng khoản đầu tư của mình để mua cổ phiếu của một công ty, bạn cần biết 7 điều sau

  1. Tăng trưởng lợi nhuận của công ty

Hãy kiểm tra lợi nhuận ròng của công ty qua các thời kỳ và nhìn vào xu hướng của nó. Lợi nhuận ròng của công ty đó nhìn chung theo hướng đi lên? Ngay cả khi sự tăng trưởng về lợi nhuận không quá lớn nhưng một công ty với tốc độ phát triển ổn định thì có thể luôn trong tầm ngắm của các nhà đầu tư.

  1. Tính ổn định

Mọi công ty đều có thể trải qua những giai đoạn mà cổ phiếu của họ mất giá trị. Đó là điều rất tự nhiên, đặc biệt với tình hình kinh tế khó khăn và nhiều biến động như hiện nay. Thay vào việc chỉ nhìn giá trị của cổ phiếu, hãy nhìn vào tính ổn định chung khi liên hệ với các điều kiện kinh tế. Nếu bạn thấy có sự biến động lớn thì cần phải xem xét lại. Nếu sự biến động nhỏ hoặc công ty vẫn tương đối ổn định trong tình hình kinh tế khó khăn, bạn có thể cân nhắc về việc mua cổ phiếu này và nắm giữ dài hạn..

  1. Vị trí của nó trong ngành 

Hãy xem xét tổng thể ngành mà công ty này đang hoạt động. Liệu cổ phiếu của ngành này có đầy hứa hẹn trong tương lai hay chỉ tăng trưởng tức thời? Nếu bạn tin tưởng vào điều này, hãy nghiên cứu sâu hơn về công ty. Vị trí hiện tại của công ty như thế nào trong ngành ? Khả năng cạnh tranh với các đối thủ ra sao?…

  1. Tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu

Nhìn vào bảng cân đối kế toán, bạn sẽ thấy mọi công ty đều có một khoản Nợ ngay cả những công ty giàu có nhất. Tuy nhiên, bạn cần hết sức cảnh giác với những công ty có số tiền nợ cao. Hãy tính tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu. Nếu bạn muốn đầu tư vào một công ty với mức độ rủi ro thấp, hãy tìm những công ty có tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu chỉ từ 0,3 trở xuống. Bạn cũng có thể chọn công ty với tỷ lệ này cao hơn nếu bạn sẵn sàng chấp nhận rủi ro hoặc tỷ lệ đó là hoàn toàn chấp nhận được trong ngành công nghiệp ( các công ty xây dựng là một ví dụ, tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu của các công ty này thường khá cao)

  1. Chỉ số P/E

Hệ số giữa thị giá một cổ phiếu trên thu nhập của nó. Đây được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất khi phân tích về giá trị đầu tư. Nếu cổ phiếu của công ty đang được bán với giá 50 USD và thu nhập trên một cổ phiếu là 2 USD, hệ số P/E sẽ là 25. Chỉ số P/E càng cao, kỳ vọng vào sự tăng trưởng của cổ phiếu trong tương lai càng lớn. Bạn không nên chỉ dựa vào yếu tố này, sẽ có ích hơn nếu bạn so sánh với chỉ số P/E của các công ty trong cùng ngành công nghiệp.

  1. Tình hình quản lý trong công ty

Công ty được quản lý như thế nào? Văn hóa chung của công ty ra sao? Công ty luôn đổi mới và phát triển? Bên cạnh đó, bạn cũng không nên bỏ qua các yếu tố có thể gây hại đến sự phát triển của công ty. Hãy nhớ rằng, một vài vụ bê bối có thể chỉ  gây tổn hại cho công ty trong thời gian ngắn. Nếu công ty có khả năng vượt qua những khó khăn như vậy, bạn hoàn toàn có thể kiếm được lợi nhuận từ việc mua lúc rẻ và bán khi đắt.

7.Chi trả cổ tức

Một công ty tốt là công ty trả cổ tức thường xuyên đều theo các năm và cổ tức tăng dần theo từng năm. Tuy nhiên bạn nên cảnh giác với các công ty trả cổ tức quá cao. Nó có thể là dấu hiệu của những điều bất ổn sắp tới. Một công ty trả nhiều cổ tức có thể sẽ không tiếp tục tái đầu tư để phát triển.

 

Để thành công trong đầu tư chứng khoán

Các nhà đầu tư chứng khoán phải làm sao để nắm vững những vấn đề bản chất của việc phân tích và dự báo giá cổ phiếu chứng khoán. Do đó phải xem xét toàn diện, tổng thể theo các nội dung chủ yếu sau:

  1. Hãy phân tích cổ phiếu trên thị trường với mục tiêu là đưa ra dự báo về giá cổ phiếu và xu hướng giá cổ phiếu trong tương lai, tìm khả năng sinh lời cao nhất có thể của cổ phiếu đó. Phải xác định rõ giai đoạn của chu kỳ cổ phiếu tăng trưởng vì đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp các nhà đầu tư cân nhắc kỹ để đi đến quyết định đầu tư chứng khoán có hiệu quả nhất.
  2. Tính chất của việc đầu tư chứng khoán trên thị trường là lợi nhuận luôn đi kèm với rủi ro . Nhà đầu tư thường bỏ ra một lượng tiền khá lớn hoặc cực lớn để kinh doanh chứng khoán, do đó, giá cổ phiếu luôn là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu. Nếu dự đoán giá cả diễn biến chính xác, sẽ mang lại thành công lớn; và ngược lại, sẽ thua lỗ, thậm chí có khi dẫn đến phá sản nợ nần. Chính vì vậy, việc phân tích, đánh giá cổ phiếu đã trở thành một lĩnh vực lớn và có xu hướng ngày càng phát triển – theo nhu cầu ngày càng cao của nhà đầu tư – vì thị trường ngày càng phát triển đa dạng và diễn biến phức tạp hơn.
  3. Làm thế nào có thể phân tích cổ phiếu để dự báo chính xác nhất về diễn biến giá cả cổ phiếu? Đó là nhà đầu tư cần phải xem xét, nghiên cứu và tìm ra câu trả lời thoả đáng các vấn đề
  4. Các cổ phiếu nào sẽ lên giá, Vì sao?
  5. Các cổ phiếu chứng khoán đó lên được giá bao nhiêu? Do đâu?
  6. Trong thời gian bao lâu, thì các cổ phiếu đó đạt mức tăng như vậy – vì đâu? Phải phân tích và tìm ra một ưu thế cạnh tranh nhất định so với các đối thủ khác như: độc quyền về công nghệ, phát minh sáng chế, chiếm lĩnh thị trường hoặc phơng pháp quản lý khoa học, chặt chẽ, nâng cao hiệu quả kinh doanh …
  7. Trong giai đoạn thử nghiệm này, hầu hết chỉ có sự tham gia của các nhà đầu tư cá nhân, sau 43 phiên giao dịch, giá liên tục tăng quá cao, vượt xa giá trị thực của cổ phiếu (có loại cổ phiếu giá thị trường hơn 3 lần so mệnh giá cổ phiếu) – bởi vì những tác động của quan hệ cung – cầu thị trường và tâm lý của các nhà đầu tư – xu hướng giá còn tiếp tục tăng và giá tăng, giảm xen kẽ, dẫn đến rủi ro và lợi nhuận xen kẽ, đây thực sự là cuộc chơi “đỏ, đen”, mà người được kẻ mất trong kinh doanh chứng khoán là chuyện thường.
  8. Làm sao có thể lựa chọn được mã cổ phiếu tăng trưởng tốt? Vấn đề quan trọng là phải xác định và lựa chọn cổ phiếu tăng trưởng – nghĩa là công ty, doanh nghiệp đó có thể tiếp tục tăng trưởng trong tương lai, theo các tiêu chí sau
  9. Đưa ra các sản phẩm mới hoặc dịch vụ mới, độc đáo, có sức thu hút trên thị trường, có khả năng chiếm lĩnh thị phần cao trên thị trường, đạt tốc độ tăng trưởng ổn định trong thời gian dài.
  10. Có chu kỳ doanh thu ổn định, tăng một cách liên tục đều đặn.
  11. Ở trong giai đoạn của chu kỳ tăng trưởng để có lợi nhuận cao trong một thời gian dài.
  12. Ở vị thế dẫn đầu trong ngành hoạt động và có chiến lược phát triển thích hợp, dự đoán đúng xu hướng phát triển trong tương lai;
  13. Có lợi nhuận trên vốn cao hơn 15%, sử dụng một phần lợi nhuận còn lại sau khi đã chi trả cổ tức để tăng vốn chủ sở của các cổ đông và tái đầu tư mở rộng quy mô phát triển
  14. Có số lợi ít, hoặc ít nhất là có tỷ số nợ/vốn cố định khoảng < 20% nguồn vốn dài hạn, sẽ gặp khó khăn tài chính trong quá trình tăng trưởng.
  15. Dựa vào các tiêu chí trên, hãy phân tích kỹ những loại cổ phiếu đang lưu hành nhưng không có loại cổ phiếu nào đầy đủ tính hoàn thiện. Mỗi loại cổ phiếu lại mang sắc thái riêng đặc trưng cho từng loại ngành nghề, từng tiêu chí khác nhau : công nghệ, sản phẩm, thị trường, tái đầu tư, lợi tức, tỷ số nợ và các tổ chức quản lý… đặc biệt là chiến lược phát triển trong tương lai.

Cảnh giác với thị trường, vì thị trường vẫn hoạt động chỉ với 4 loại cổ phiếu giao dịch, đầu tư gắn liên với đầu cơ, giá tiếp tục biến động. Vấn đè là phải tìm ra các giới hạn khác nhau của các loại cổ phiếu đó – xác định mức độ tín nhiệm và sinh lời để có chiến lược đầu tư cụ thể đối với từng loại cổ phiếu, bảo đảm lợi nhuận và thu nhập hợp lý là vấn đề khó khăn và giải quyết đúng đắn của các nhà đầu tư, tránh rủi ro thua thiệt.

  1. Trong thực tế kinh doanh chứng khoán, việc dự báo biến động giá và xu hướng giá ngắn hạn bao giờ cũng có nhiều thành công và chính xác hơn dự báo xu hướng dài hạn, vì tính nhạy cảm và phức tạp của thị trường chứng khoán. Do đó, phải dự đoán và xử lý các vấn đề sau:
  2. Trong dài hạn, đầu tư cổ phiếu sẽ mang lại lợi tức vượt xa các loại đầu tư khác, yếu tố quyết định nhất và duy nhất đến giá cổ phiếu là lợi nhuận và chất lượng cổ phiếu .
  3. Trong ngắn hạn, đầu tư cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến tình hình tài chính của nhà đầu tư
  4. Lợi nhuận và rủi ro luôn tỷ lệ với nhau, lợi nhuận cao thì rủi ro càng lớn
  5. Mức độ biến động của cổ phiếu lớn hơn nhiều so với trái phiếu, lãi suất tăng sẽ ảnh hưởng đến giá trái phiếu

đ. Danh mục đầu tư đa dạng sẽ ít rủi ro hơn danh mục đầu tư tập trung

  1. Lạm phát là mối đe doạ lớn nhất đối với các khoản đầu tư dài hạn. Đó là những vấn đề kinh tế – tài chính và nguyên tắc kinh doanh phức tạp, có tính tổng hợp – ảnh hưởng do nhiều yếu tố khác nhau kể cả trình độ hiểu biết của các chuyên gia phân tích chứng khoán cũng như nhà đầu tư.
  2. Phân tích cơ bản cổ phiếu nhằm cung cấp thông tin để đánh giá triển vọng tăng trưởng và lợi nhuận trên cơ sở dự báo tương lai của cổ phiếu, của ngành, lĩnh vực hoạt động, của nền kinh tế. Nó bao gồm các yếu tố sau:
  3. Đánh giá môi trường kinh doanh tương lai
  4. Dự báo thu nhập tương lai của cổ phiếu
  5. Dự báo mức giá cổ phiếu. Do đó, phân tích cơ bản là phương pháp tiếp cận dài hạn, còn có nhiều biến số phải tính đến và không biết trước chắc chắn được.
  6. Thông qua việc nghiên cứu các mô hình giao dịch và các hành vi hiện tại của thị trường chứng khoán có thể phân tích kỹ thuật cổ phiếu nhằm nghiên cứu những diễn biến hay hành vi thị trường – vốn đã phức tạp – để có thể biết được một cách sâu sắc các hành vi có thể xảy ra trong tương lai của thị trường chẳng hạn như những thông tin về một cổ phiếu, hoặc một ngành, hoặc một thị trường đều có thể được các nhà đầu tư nghiên cứu, xem xét, và do đó, nó phản ánh vào trong giá, cổ tức, lợi nhuận và giao dịch của cổ phiếu đó.

Nhà đầu tư có thể đầu tư vào một cổ phiếu khi phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật cùng đưa ra kết luận chung về xu hướng biến động của giá và của thị trường chứng khoán.

 

Ngày giao dịch không hưởng quyền là gì

Khi bạn xem thông tin về lịch trả cổ tức của một doanh nghiệp bạn sẽ thấy ghi ngày giao dịch không hưởng quyền, ngay đăng ký cuối cùng… Vậy chúng có ý nghĩa như nào trong giao dịch mua bán chứng khoán

Ngày giao dịch không hưởng quyền là ngày giao dịch mà nhà đầu tư mua chứng khoán sẽ không được hưởng các quyền lợi của cổ đông như quyền nhận cổ tức (cổ tức tiền mặt, cổ tức cổ phiếu) , quyền mua cổ phiếu phát hành thêm với giá ưu đãi, quyền tham dự Đại Hội Cổ Đông…

Ngày chốt danh sách nhà đầu tư sở hữu chứng khoán chính là ngày đăng ký cuối cùng, là ngày tổ chức phát hành lập danh sách người sở hữu chứng khoán với mục đích để thực hiện các quyền lợi cho cổ đông. Tại ngày chốt danh sách, nếu nhà đầu tư có tên trong danh sách người sở hữu chứng khoán sẽ được nhận các quyền của mình như quyền nhận cổ tức, quyền mua cổ phiếu phát hành thêm với giá ưu đãi (mua rẻ hơn giá thị trường đang giao dịch)…

Quy định hiện nay, bắt đầu từ 1/1/2016, với các giao dịch chứng khoán bình thường, với thời hạn thanh toán là T+2, nghĩa là thời hạn thanh toán là 2 ngày chỉ tính các ngày giao dịch từ thứ 2 đến thứ 6 . Cụ thể là thời gian từ ngày giao dịch (mua/bán) đến ngày nhận được chứng khoán/tiền về đến tài khoản là 2 ngày (ngày giao dịch tính là ngày T+0). Do đó, nhà đầu tư mua cổ phiếu 1 ngày trước ngày đăng ký sở hữu (đăng ký cuối cùng) sẽ không có tên trong sổ cổ đông, vì giao dịch chưa được thanh toán, do vậy sẽ không được hưởng quyền.

Như vậy, nhà đầu tư mua chứng khoán trước ngày giao dịch không hưởng quyền sẽ có tên trong danh sách được hưởng quyền chứng khoán(cổ tức..). Nếu mua vào ngày giao dịch không hưởng quyền hoặc sau ngày giao dịch không hưởng quyền thì nhà đầu tư sẽ không có tên trong danh sách người sở hữu chứng khoán được hưởng quyền. Chỉ cần cổ đông có tên trong danh sách vào ngày chốt quyền, cổ đông đó đương nhiên được hưởng quyền lợi, không kể cổ đông đó đã giữ cổ phiếu từ lâu hay mới chỉ mới sở hữu vào trước ngày chốt quyền.

VD: 1 công ty A công bố tạm ứng cổ tức năm 2015 với tỷ lệ 20%. Ngày giao dịch không hưởng quyền là ngày thứ 4 ngày 10/05 ngày đăng kỹ cuối cùng là ngày thứ 5 ngày 11/05. Thì tất cả các nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu A từ ngày 9/05 sẽ được hưởng các quyền nhận cổ tức 20% = 2000 đồng

Ngày thanh toán trên thông báo là ngày cổ tức bằng tiền mặt (hoặc bằng cổ phiếu) sẽ tự về tài khoản chứng khoán của nhà đầu tư.

 

 

Công ty chứng khoán là gì?

Công ty chứng khoán là một loại công ty tài chính cung cấp các dịch vụ liên quan đến chứng khoán và thị trường tài chính. Các dịch vụ này bao gồm mua bán chứng khoán, tư vấn đầu tư, quản lý tài khoản chứng khoán, cung cấp thông tin và phân tích thị trường tài chính, và các dịch vụ khác liên quan đến chứng khoán. Công ty chứng khoán thường là những công ty lớn và có uy tín, được cấp phép và giám sát bởi các cơ quan quản lý tài chính như Ủy ban Chứng khoán .

Các công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính đóng vai trò trung gian ở thị trường chứng khoán, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bán chứng khoán, môi giới chứng khoán, cung cấp dich vụ (mở tài khoản chứng khoán, tư vấn chứng khoán…)  cho các nhà đầu tư để hưởng hoa hồng, phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lý quỹ đầu tư. Công ty chứng khoán có thể tham gia quá trình trao đổi cổ phiếu trong thị trường với vai trò trung gian.

Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập, hoạt động theo Luật chứng khoán và các quy định khác của pháp luật để thực hiện một, một số nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo giấy phép do  Ủy ban chứng khoán Nhà nước  cấp: môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh chứng khoán, cung cấp dịch vụ chứng khoán…

Đặc điểm công ty chứng khoán

– Lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh: công ty chứng khoán có thể thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nếu có đủ điều kiện và được uy ban chứng khoán cấp giấy phép cho những hoạt động đó. Hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh chứng khoán, gồm: một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo Điều 60 Luật chứng khoán ( môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán) bên cạnh những nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thì công ty chứng khoán còn được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác.

– Hình thức tổ chức pháp lý: công ty chứng khoán chỉ được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo Luật doanh nghiệp 2005.

Công ty chứng khoán chỉ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn là do đây là hai loại hình doanh nghiệp có tính phổ biến trong nền kinh tế thị trường, có quy chế pháp lý về tổ chức, hoạt động chặt chẽ, và có quy định khá giống nhau ở nhiều quốc gia. Nên quy định hình thức pháp lý của công ty chứng khoán như vậy đáp ứng đòi hỏi đặc thù của hoạt động kinh doanh chứng khoán là đảm bảo độ tin cậy cao, hạn chế rủi ro và đáp ứng yêu cầu của thị trường chứng khoán là thị trường mang tính quốc tế cao.

 

 

Thời gian và quy định giao dịch của sàn HNX

  1.       Thời gian giao dịch của sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX)

Giao dịch chứng khoán vào tất cả các ngày làm việc trong tuần từ thứ 2 đến thứ 6 (trừ thứ 7, Chủ nhật và các ngày nghỉ lễ theo quy định tại Bộ Luật Lao động).

* Phương thức giao dịch chứng khoán:

–       Phương thức khớp lệnh liên tục: là phương thức giao dịch được hệ thống giao dịch thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch.

–       Phương thức khớp lệnh định kỳ: là phương thức giao dịch được hệ thống giao dịch thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán tại một thời điểm xác định.

–       Phương thức thỏa thuận: là phương thức giao dịch trong đó các điều kiện giao dịch được các bên tham gia thoả thuận với nhau và xác nhận thông qua hệ thống giao dịch.

 

  1. Các loại lệnh trong giao dịch chứng khoán

–      Lệnh giới hạn (LO):Là lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn. Mức giá tốt hơn là mức giá cao hơn mức giá xác định đối với lệnh bán và mức giá thấp hơn mức giá xác định đối với lệnh mua.

Lệnh LO được phép nhập vào hệ thống giao dịch trong cả phiên khớp lệnh liên tục và định kỳ.

–      Lệnh thị trường: Là lệnh mua cổ phiếu chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường.

Lệnh thị trường chỉ được nhập vào hệ thống giao dịch trong phiên khớp lệnh liên tục.

Các loại lệnh thị trường:

+ Lệnh thị trường giới hạn (MTL): là lệnh thị trường nếu không được thực hiện toàn bộ thì phần còn lại của lệnh được chuyển thành lệnh LO mua với mức giá cao hơn mức giá khớp lệnh cuối cùng một đơn vị yết giá hoặc mức giá trần nếu mức giá khớp lệnh cuối cùng là giá trần (đối với lệnh mua) hoặc lệnh LO bán với mức giá thấp hơn mức giá khớp cuối cùng một đơn vị yết giá hoặc mức giá sàn nếu mức giá khớp lệnh cuối cùng là giá sàn.

+ Lệnh thị trường khớp toàn bộ hoặc hủy (MOK)là lệnh thị trường nếu không được thực hiện toàn bộ thì bị hủy trên hệ thống giao dịch ngay sau khi nhập

+ Lệnh thị trường khớp và hủy (MAK)là lệnh thị trường có thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần, phần còn lại của lệnh sẽ bị hủy ngay sau khi khớp lệnh.

–      Lệnh giao dịch tại mức giá đóng cửa (ATC): Là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá đóng cửa.

Lệnh ATC chỉ được nhập vào hệ thống trong phiên khớp lệnh định kỳ đóng cửa. Sau thời điểm khớp lệnh, lệnh không được thực hiện hoặc phần còn lại của lệnh không được thực hiện hết sẽ tự động bị hủy.

 

  1. Đơn vị giao dịch và đơn vị yết giá

–      Đơn vị giao dịch:

+ Giao dịch lô chẵn: đơn vị giao dịch là 100 cổ phiếu hoặc trái phiếu.

+ Giao dịch lô lẻ: có khối lượng từ 1 đến 99 cổ phiếu hoặc trái phiếu, đơn vị giao dịch là 01 cổ phiếu.

+ Giao dịch thỏa thuận: không qui định đơn vị giao dịch. Áp dụng khối lượng giao dịch tối thiểu đối với cổ phiếu là 5.000 cổ phiếu, đối với trái phiếu là 1.000 trái phiếu.

–      Đơn vị yết giá:

+ Đối với cổ phiếu: 100 đồng

+ Đối với trái phiếu: không quy định.

  1. Biên độ dao động giá

–      Biên độ dao động giá cổ phiếu niêm yết tại sàn Hà Nội ± 10%

–      Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu mới niêm yết và ngày đầu tiên giao dịch trở lại đối với cổ phiếu bị tạm ngừng giao dịch trên 25 ngày giao dịch là ±30% so với giá tham chiếu.

  1. Giá tham chiếu

–      Giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch là giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất trước đó.

–      Việc xác định giá của cổ phiếu mới niêm yết trong ngày giao dịch đầu tiên được quy định như sau:

+ Giá tham chiếu được áp dụng đối với cổ phiếu mới niêm yết trong ngày giao dịch đầu tiên do tổ chức niêm yết và tổ chức tư vấn niêm yết (nếu có) đề xuất;

+ Trường hợp trong ba (03) ngày giao dịch liên tục kể từ ngày giao dịch đầu tiên chưa xác định được mức giá đóng cửa được sử dụng là giá tham chiếu trong ngày giao dịch kế tiếp, tổ chức niêm yết và tổ chức tư vấn niêm yết (nếu có) phải xác định lại giá tham chiếu.

–      Trường hợp cổ phiếu bị tạm ngừng giao dịch trên hai lăm (25) ngày giao dịch, khi được giao dịch trở lại, giá tham chiếu do SGDCKHN quyết định sau khi được sự chấp thuận của UBCKNN.

–      Trường hợp giao dịch cổ phiếu không được hưởng cổ tức và các quyền kèm theo, giá tham chiếu tại ngày không hưởng quyền được xác định theo nguyên tắc lấy giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất điều chỉnh theo giá trị cổ tức được nhận hoặc giá trị của các quyền kèm theo, ngoại trừ các trường hợp sau:

+ Doanh nghiệp phát hành trái phiếu chuyển đổi;

+ Doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu với giá phát hành cao hơn giá đóng cửa của cổ phiếu trong ngày giao dịch liền trước ngày không hưởng quyền sau khi đã điều chỉnh theo các quyền khác (nếu có).

–      Trường hợp tách hoặc gộp cổ phiếu, giá tham chiếu tại ngày giao dịch trở lại được xác định theo nguyên tắc lấy giá đóng cửa của ngày giao dịch trước ngày tách, gộp điều chỉnh theo tỷ lệ tách, gộp cổ phiếu.

–      Trong một số trường hợp cần thiết, SGDCKHN có thể áp dụng phương pháp xác định giá tham chiếu khác sau khi được UBCKNN chấp thuận.

  1. Giao dịch lô lẻ

–      Giao dịch lô lẻ được thực hiện theo phương thức khớp lệnh liên tục và phương thức thỏa thuận trên hệ thống giao dịch hoặc các hình thức khác do sở giao dịch chứng khoán Hà Nội quyết định sau khi được ủy ban chứng khoán nhà nước chấp thuận.

–      Nhà đầu tư chỉ được phép nhập lệnh LO đối với giao dịch lô lẻ và phải tuân thủ quy định về sửa, hủy lệnh LO tương tự đối với giao dịch lô chẵn.

–      Đơn vị giao dịch lô lẻ là 01 cổ phiếu.

–      Giá giao dịch:

+ Giá của lệnh giao dịch lô lẻ phải tuân thủ theo các quy định về giá giao dịch tương tự giao dịch lô chẵn;

+ Các lệnh giao dịch lô lẻ không được sử dụng để xác định giá tham chiếu, giá tính chỉ số.

–      Giao dịch lô lẻ của cổ phiếu mới được niêm yết hoặc giao dịch trở lại sau hai lăm (25) ngày tạm ngừng giao dịch không được nhập vào hệ thống giao dịch cho đến khi có giá đóng cửa được xác lập.

  1. Chứng khoán bị tạm ngừng giao dịch

–      Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội sẽ xem xét tạm ngừng giao dịch chứng khoán niêm yết khi xảy ra một trong các trường hợp sau:

+ Giá, khối lượng giao dịch chứng khoán có biến động bất thường;

+ Khi có thông tin liên quan đến tổ chức niêm yết ảnh hưởng lớn đến giao dịch chứng khoán và cần có sự xác nhận của tổ chức niêm yết;

+ Tổ chức niêm yết đang trong tình trạng bị kiếm soát;

+ Thực hiện việc tách, gộp cổ phiếu; tách, sáp nhập doanh nghiệp;

+ Trong trường hợp sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (SGDCKHN) xét thấy cần thiết để bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư.

–      SGDCKHN sẽ xem xét cho phép chứng khoán tạm ngừng giao dịch được giao dịch trở lại sau khi tổ chức niêm yết đã khắc phục  được các nguyên nhân dẫn đến chứng khoán bị tạm ngừng giao dịch (Căn cứ theo giải trình của tổ chức niêm yết).

–      SGDCKHN thực hiện công bố thông tin toàn thị trường về việc tạm ngừng giao dịch/cho phép giao dịch trở lại đối với chứng khoán niêm yết.

Danh sách cổ phiếu niêm yết tại sàn HNX.

https://www.hnx.vn/vi-vn/co-phieu-etfs/chung-khoan-ny-moi.html

Thời gian và quy định giao dịch chứng khoán của sàn HOSE

  1. Thời gian giao dịch HOSE

Thời gian giao dịch của sở giao dịch chứng khoán TP. HCM từ 9h sáng đến 15h chiều từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần ( trừ thứ 7, chủ nhật, các ngày nghĩ lễ  theo “bộ luật lao đông”)

  1. Phương thức khớp lệnh:

Khớp lệnh định kỳ: Là phương thức giao dịch được thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán tại một thời điểm xác định. Nguyên tắc để xác định giá

  • Là mức giá thực hiện đạt khối lượng giao dịch lớn nhất.
  • Nếu có nhiều mức giá thỏa mãn điều kiện ở trên thì mức giá trùng hoặc gần nhất với giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn để xác định giá

Khớp lệnh liên tục: Là phương thức giao dịch được thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch.

  1. Nguyên tắc khớp lệnh:
  • Ưu tiên về giá:
    • Lệnh mua với mức giá cao hơn được ưu tiên thực hiện trước.
    • Lệnh bán với mức giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện trước.
  • Ưu tiên về thời gian:
    • Trường hợp các lệnh mua hoặc lệnh bán có cùng mức giá thì lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước được ưu tiên thực hiện trước.
  1. Đơn vị giao dịch và đơn vị yết giá:
  • Đơn vị giao dịch chứng khoán:
    • Đơn vị giao dịch khớp lệnh lô chẵn: 10 cố phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF.
    • Khối lượng giao dịch thỏa thuận: từ 20.000 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF trở lên.
    • Không quy định đơn vị giao dịch đối với giao dịch thỏa thuận.
    • Giao dịch cổ phiếu có khối lượng từ 01 đến 09 cổ phiếu (lô lẻ) được thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư với công ty chứng khoán, giá thực hiện được xác định bằng 90% giá tham chiếu của ngày ký kết Hợp đồng.
  • Đơn vị yết giá:
    • Đối với phương thức khớp lệnh:
Mức Giá Đơn Vị Yết Giá
<= 49.900 đồng 100 đồng
50.000 – 99.500 đồng 500 đồng
>= 100.000 đồng 1.000 đồng
    • Không qui định đơn vị yết giá đối với giao dịch thỏa thuận trái phiếu.
  1. Biên độ dao động giá chứng khoán:
  • Biên độ dao động giá quy định trong ngày đối với giao dịch cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF là ± 7%
  • Không áp dụng biên độ giao động giá đối với giao dịch trái phiếu.
  • Giá:
    • Giá trần = Giá tham chiếu x (100% + Biên độ dao động)
    • Giá sàn = Giá tham chiếu x (100% – Biên độ dao động)

Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF có mức giá trần-sàn sau khi điều chỉnh biên độ dao động ± 7% nhưng giá trần/ sàn vẫn bằng mức giá tham chiếu sẽ điều chỉnh như sau:

  • Giá trần điều chỉnh = Giá tham chiếu + một đơn vị yết giá
  • Giá sàn điều chỉnh = Giá tham chiếu – một đơn vị yết giá

Trường hợp giá trần và sàn của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF sau khi điều chỉnh theo cách trên bằng không (0), giá trần và sàn sẽ được điều chỉnh như sau:

  • Giá trần điều chỉnh = Giá tham chiếu + một đơn vị yết giá
  • Giá sàn điều chỉnh = Giá tham chiếu

Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF mới niêm yết, trong ngày giao dịch đầu tiên, giá giao dịch được biến động trong +/-20% giá giao dịch dự kiến. Tổ chức niêm yết và công ty chứng khoán làm tư vấn niêm yết phải đưa ra mức giá giao dịch dự kiến để tính giá tham chiếu cho cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF trong ngày giao dịch đầu tiên. Nếu trong 03 ngày giao dịch đầu tiên, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF mới niêm yết vẫn chưa có giá đóng cửa, tổ chức niêm yết phải được xác định giá giao dịch dự kiến.

Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF được giao dịch trở lại sau khi tạm dừng giao dịch trên 45 ngày, biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên sẽ được HSX xác đinh sau khi có sự chấp thuận của SSC.

Giá đóng cửa trong ngày giao dịch đầu tiên sau khi được giao dịch trở lại sẽ là giá tham chiếu cho ngày giao dịch kế tiếp. Biên độ dao động giá 7 % được áp dung cho ngày giao dịch kế tiếp.

Nếu trong 03 ngày đầu tiên sau khi giao dịch trở lại, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF được giao dịch trở lại vẫn chưa có giá đóng cửa, HSX sẽ xem xét điều chỉnh biên độ dao động giá của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF sau khi có sự chấp thuận của SSC.

  1. Các lệnh giao dịch được sử dụng:
  • Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa (Viết tắt ATO):
    • Là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa.
    • Lệnh ATO được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh.
    • Lệnh ATO được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá mở cửa và sẽ tự động tự hủy bỏ sau thời điểm xác định giá mở cửa nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết.
  • Lệnh giới hạn
    • Là lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc giá tốt hơn. Lệnh có hiệu lực kể từ khi được nhập vào hệ thống giao dịch cho đến hết ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ.
  • Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa (Viết tắt là ATC):Tương tự như lệnh ATO nhưng được áp dụng trong thời gian khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa.Ví dụ về lệnh ATO (ATC):
    Sổ lệnh (Trong thời gian khớp lệnh định kỳ):
    Cổ phiếu AAA, giá tham chiếu : 99. Lệnh vào hệ thống theo thứ tự A, B, C.
KL Đặt Mua Giá Đặt Mua Giá Đặt Bán KL Đặt Bán
5,000 ( C ) 100 ATO (ATC) 4,000 ( B )
99 2,000 ( A )
  • Kết quả khớp:
    • Giá khớp : 99
    • Khối lượng khớp: 5,000. Trong đó: C-B : 4,000.
    • Lệnh ATO (ATC) được ưu tiên trước so với lệnh giới hạn trong so khớp lệnh.
  • Lệnh thị trường (Viết tắt là MP) (áp dụng từ 02/07/2012)
    • Là lệnh mua/bán chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất/ giá mua cao nhất hiện có trên thị trường.
    • Khi được nhập vào hệ thống giao dịch, lệnh mua MP sẽ được thực hiện ngay tại mức giá bán thấp nhất và lệnh bán MP sẽ thực hiện ngay tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường. Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh MP vẫn chưa được thực hiện hết, lệnh MP sẽ được xem là lệnh mua tại mức giá bán cao hơn hoặc lệnh bán tại mức giá mua thấp hơn tiếp theo hiện có trên thị trường và tiếp tục so khớp.
    • Nếu khối lượng đặt của lệnh MP vẫn còn sau khi giao dịch theo nguyên tắc trên và không thể tiếp tục khớp được nữa thì lệnh MP sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại mức giá cao hơn một bước giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó hoặc lệnh giới hạn bán tại mức giá thấp hơn một bước giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó.
    • Trường hợp giá thực hiện cuối cùng là giá trần đối với lệnh mua hoặc giá sàn đối với lệnh bán MP thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại giá trần hoặc lệnh giới hạn bán tại giá sàn.
    • Lệnh MP có hiệu lực trong phiên khớp lệnh liên tục
    • Lệnh MP sẽ tự động hủy nếu không có lệnh giới hạn đối ứng tại thời điểm nhập lệnh vào hệ thống giao dịch.
    • Lệnh mua MP của nhà đầu tư nước ngoài sau khi khớp một phần, phần còn lại sẽ tự động hủy nếu chứng khoán hết room.
  1. Quy tắc hủy lệnh giao dịch:
  • Trong thời gian khớp lệnh định kỳ:Khách hàng không được hủy lệnh giao dịch đã đặt trong đợt khớp lệnh định kỳ.
  • Trong thời gian khớp lệnh liên tục:Khách hàng có thể yêu cầu nhân viên môi giới hủy lệnh nếu lệnh hoặc phần còn lại của lệnh chưa được thực hiện, kể cả các lệnh hoặc phần còn lại của lệnh chưa được thực hiện ở lần khớp lệnh định kỳ hoặc liên tục trước đó.
  1. Thời gian thanh toán T+
Loại Giao Dịch Thời Gian Thanh Toán
Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF
Khớp lệnh T + 3
Thỏa thuận T + 3
Trái phiếu T + 1
  1. Giao dịch chúng khoán của nhà đầu tư nước ngoài:
  • Trong thời gian giao dịch khớp lệnh:
    • Khối lượng mua cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng của nhà đầu tư nước ngoài được trừ vào khối lượng được phép mua ngay sau khi lệnh mua được thực hiện; khối lượng bán cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng của nhà đầu tư nước ngoài được cộng vào khối lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng được phép mua ngay sau khi kết thúc việc thanh toán giao dịch (T+3).
    • Lệnh mua hoặc một phần lệnh mua cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng của nhà đầu tư nước ngoài chưa được thực hiện sẽ tự động bị hủy nếu khối lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng được phép mua đã hết hoặc không được thực hiện ngay khi nhập vào hệ thống giao dịch.
  • Trong thời gian giao dịch thỏa thuận:
    • Khối lượng chứng khoán được phép mua của nhà đầu tư nước ngoài sẽ không thay đổi nếu giao dịch thỏa thuận được thực hiện giữa hai nhà đầu tư nước ngoài với nhau.

Bạn có thể tham khảo danh sách cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch TP .HCM: Danh sách cổ phiếu giao dịch trên sàn HOSE

 

 

Chỉ số EPS là gì trong chứng khoán

Chỉ số EPS (Viết tắt của “Earning Per Share”) là lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu.

Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần đang được lưu hành trên thị trường chứng khoán. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp và được tính bởi công thức:

EPS = (Thu nhập ròng – cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / Số lượng cổ phiếu bình quân đang lưu hành.

Trong việc tính toán EPS, sẽ chính xác hơn nếu sử dụng lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ để tính toán vì lượng cổ phiếu chứng khoán thường xuyên thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên trên thực tế người ta thường hay tính toán bằng cách sử dụng số cổ phiếu đang lưu hành vào thời điểm cuối kỳ để đơn giản hóa. Có thể làm giảm EPS dựa trên công thức cũ bằng cách tính thêm cả các cổ phiếu chuyển đổi, các bảo chứng vào số lượng cổ phiếu đang lưu thông.

EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá của cổ phiếu. Đây cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ hay chỉ số P/E. Một khía cạnh rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (net income) trong công thức tính trên.

Hai doanh nghiệp có thể có cùng chỉ số EPS nhưng một trong hai có thể có ít cổ phần hơn tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn có hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố khác là cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp kia. Vì doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo “chất lượng” của chỉ số này. Tốt hơn hết là không nên dựa vào một thước đo tài chính duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các chỉ số khác.

 Bạn có thể tham khảo thêm về chỉ số P/E trong chứng khoán:

 

 

Chỉ số P/E là gì Tìm hiểu hệ số PE trong chứng khoán, công thức tính P/E

Tìm hiểu hệ số P/E trong chứng khoán .

P/E ( Price to Earning Ratio – Hệ số giá trên lợi nhuận) được hiểu là hệ số giữ giá cổ phiếu trên lợi nhuận của một cổ phiếu phản ánh mối quan hệ giữ giá trị trường của cổ phiếu và thu nhập bình quân trên một cổ phiếu . 

P/E là một chỉ số đo lường giá trị của một cổ phiếu. Nó được tính bằng cách chia giá cổ phiếu hiện tại cho lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu của công ty đó trong một năm. Ví dụ, nếu giá cổ phiếu của công ty ABC là $50 và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu của công ty đó trong năm là $5, thì P/E của công ty ABC sẽ là 10 ($50 / $5). Điều này có nghĩa là nhà đầu tư sẽ mất khoảng 10 năm để thu hồi lại số tiền đầu tư ban đầu nếu giá cổ phiếu không thay đổi. P/E thường được sử dụng để so sánh giá trị của một cổ phiếu với các công ty khác trong cùng ngành hoặc với trung bình của toàn thị trường.

 Công thức để tính hệ số P/E 

P/E = Price/EPS cuối năm

Price là giá cổ phiếu đang được giao dịch mua bán ở thời điểm hiện tại.

 EPS : Thu thập trên mỗi cổ phiếu được tính bằng lợi nhuận sau thuế của công ty chia cho số cổ phiếu đang phát hành.

– P/E được tính toán dựa trên số liệu báo cáo của công ty trong một năm . Vì thế hệ số P/E cũng có thể biến động theo lơi nhuận của công ty .

Vì sao khi đầu tư chứng khoán nhà đầu tư nên quan tâm tới hệ số P/E

Hệ số P/E là một trong nhiều chỉ số nhà đầu tư nên quan tâm nêu như chỉ số P/E của một cổ phiếu thấp sẽ mang những ý nghĩa sau:

  • Giá cổ phiếu đang ở mức thấp so với giá trị thực và có khả năng tăng thêm.
  • Lợi nhuận trên một cổ phiếu (EPS) đang ở mức cao .
  • Hoặc công ty đang có vấn đề về tài chính …

Hệ số P/E là một trong những yếu tố giúp nhà đầu tư có thể định giá đúng giá trị của cổ phiếu từ đó có thể đưa ra quyết định mua – bán hợp lý mang lại lợi nhuận .——–

Tham khảo thêm chi số EPS là gì :

Tìm hiểu về thị trường chứng khoán

Tìm hiểu về thị trường chứng khoán là gì ?

Thị trường chứng khoán là lĩnh vực phong phú, đa dạng ngành nghề và rất phức tạp, là nơi mua bán các cổ phần (chứng khoán) và thường được thực hiện chủ yếu tại sở giao dịch chứng khoán, một phần ở các công ty chứng khoán , và cả ở thị trường chuyển nhượng (chợ đen).

Về hình thức, thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán qua đó thay đổi chủ thể, tỷ lệ nắm giữ chứng khoán của các cổ đông trong doanh nghiệp.

 

Khái niệm thị trường chứng khoán

  • Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường huy động vốn, nó hoạt động nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ đầu tư cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính Phủ để phát triển thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
  • Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch các loại chứng khoán. Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp. do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi.
    1. Thị trường sơ cấp: nhà đầu tư mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành.
    2. Thị trường thứ cấp: nơi diễn ra sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành qua Thị trường sơ cấp.
  • Hàng hóa, sản phẩm giao dịch trên Thị trường chứng khoán bao gồm: các cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên một năm.
  • Vị trí của thị trường chứng khoán trong thị trường Tài chính có hai thị trường lớn là:
    1. Thị trường Tài chính ngắn hạn là thị trường tiền tệ
    2. Thị trường Tài chính dài hạn (Thị trường vốn): bao gồm Thị trường tín dụng dài hạn (gồm Thị trường cho vay thế chấp và thị trường cho thuê tài chính); và Thị trường chứng khoán.
  • Đặc điểm chủ yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam
    1. Được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và người cung cấp vốn đều trực tiếp tham gia thị trường, giữa họ không có trung gian tài chính thực hiện qua hành động mua bán cổ phiếu, cổ phần.
    2. Là thị trường cạnh tranh hoàn hảo: tất mọi người đều tự do tham gia vào thị trường và hưởng quyền như nhau thông qua hệ thống luật quy định chung. Không có sự áp đặt giá cả trên thị trường chứng khoán, mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu giữa bện mua và bên bán.
    3. Về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp và qua tay nhiều nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn khi họ thực hiện giao dịch thành công.

Chức năng của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán có vai trò thực hiện các chức năng chủ yếu sau:

  1. Huy động vốn đầu tư trong xã hội cho nền kinh tế
  2. Cung cấp môi trường đầu tư công bằng cho các nhà đâu tư
  3. Cung cấp khả năng thanh toán cho các chứng khoán
  4. Đánh giá giá trị doanh nghiệp niêm yết và tình hình của nền kinh tế
  5. Tạo môi trường giúp nhà nước thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Cơ cấu của thị trường chứng khoán

  • Căn cứ vào phương thức giao dịch:
  1. Thị trường giao dịch ngay : giao dịch mua bán theo mức giá của ngày hôm đó; việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra sau đó vài ngày tùy theo mỗi thị trường chứng khoán quy định riêng số ngày (T+)
  2. Thị trường tương lai: Thị trường mua bán chứng khoán theo những hợp đồng mà giá cả được thỏa thuận ngay trong ngày giao dịch; việc thanh toán và giao hoán tiền và chứng khoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn ở tương lai (vài tháng hoặc lâu hơn).
  • Căn cứ vào tính chất chứng khoán đang giao dịch:
  1. Thị trường cổ phiếu
  2. Thị trường trái phiếu
  3. Thị trường chứng khoán phái sinh, bao gồm thị trường hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn mua bán với mức giá định trước trong tương lai  – Đây là thị trường cấp cao mua bán chuyển giao các công cụ tài chính cấp cao; Do đó thị trường này chỉ xuất hiện ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển ở trình độ cao và ổn định.
  • Căn cứ vào lưu chuyển vốn:
  1. Thị trường sơ cấp: tạo ra kênh thu hút tiền nhàn rỗi để đầu tư
  2. Thị trường thứ cấp: tạo ra khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện thông qua hệ thống giao dịch; Tiền thu được ở đây không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư đã bán chứng khoán, nhượng lại quyền sở hữu chứng khoán cho nhà đầu tư khác thông qua mua-bán giao dịch.
  •  – Thị trường sơ cấp và Thị trường thứ cấp có mối quan hệ nội tại, thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề còn thị trường thứ cấp là động lực phát triển. Không có thị trường sơ cấp thì không có chứng khoán để lưu thông trên thị trường thứ cấp và ngược lại; nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó hoạt động thuận lợi.

– Việc phân biệt Thị trường sơ cấp và Thị trường thứ cấp có tính chất tương đối.

Mục tiêu quản lý và điều hành thị trường chứng khoán

  1. Hoạt động có hiệu quả minh bạch
  2. Điều hành công bằng
  3. Phát triển ổn định

Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán

  1. Cạnh tranh tự do cho tất cả mọi người tham gia
  2. Công khai minh bạch: Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều phải đảm bảo tính công khai. Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch các chứng khoán trên thị trường. Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm theo 4 quý của công ty. Các sự kiện bất thường xảy ra đối với công ty, thay đổi tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của giám đốc, cổ đông lớn..đều phải có báo cáo với sở giao dịch chứng khoán . Các thông tin càng được công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút được nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán.
  3. Trung gian mua bán: Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán đều được thực hiện thông qua các trung gian, hay còn gọi là các nhà môi giới ( các công ty chứng khoán). Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng theo quy định. Ngoài ra, công ty chứng khoán còn có thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng trong việc đầu tư và các công cụ đòn bẩy…
  4. Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán. Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này.  Giá chứng khoán được xác định theo cung-cầu .

->Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình thành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các nhà đầu tư giao dịch. Do đó, ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay, mỗi nước chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy nhất để quản lý. Các công ty chứng khoán có vai trò cung cấp các dịch vụ đến với nhà đầu tư ( mở tài khoản chứng khoán, tư vấn đầu tư, cung cấp vốn-margin )

Một số nước khác còn tồn tại vài Sở giao dịch chứng khoán do lịch sử để lại thì đều kết nối với nhau hoặc giao dịch những chứng khoán riêng biệt.